Từ 15/3/2025, quy định mới về khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can chính thức có hiệu lực, làm rõ hơn căn cứ, thẩm quyền và trình tự thực hiện. Những thay đổi này góp phần bảo đảm việc xử lý tội phạm đúng quy định và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự.
Quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng
Theo Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được thực hiện như sau:
– Nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu tiến hành tố tụng đối với vụ án thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi quy định tại Điều 49 và Điều 51 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp để tiến hành điều tra.
Trường hợp Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trung ương tiến hành tố tụng đối với vụ án thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì Bộ trưởng Bộ Công an (nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc Bộ Quốc phòng), Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao) quyết định giao một Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng đối với vụ án.
– Trường hợp Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định phân công Phó Thủ trưởng khác hoặc Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án.
– Trường hợp Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh (hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh ủy quyền) phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án (sau đây gọi tắt là Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công) thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì người có thẩm quyền đã phân công có quyền quyết định thay đổi.
– Khi Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì Kiểm sát viên trao đổi ngay để Điều tra viên, Cán bộ điều tra từ chối tiến hành tố tụng; trường hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra không nhất trí thì Kiểm sát viên có văn bản yêu cầu Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được phân công xem xét, thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra hoặc báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có văn bản yêu cầu Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được phân công xem xét, thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát có thẩm quyền, thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công phải ra quyết định thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; nếu không nhất trí thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công trả lời Viện kiểm sát có thẩm quyền bằng văn bản, nêu rõ lý do.
– Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi quy định tại Điều 49 và Điều 52 của Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Viện kiểm sát phải báo cáo ngay với Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để ra quyết định phân công một Phó Viện trưởng của Viện kiểm sát đó thay thế và gửi quyết định phân công cho Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án.
Trường hợp Viện kiểm sát đó không có Phó Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát báo cáo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát có thẩm quyền để Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp rút vụ án để điều tra; trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát nhân dân khu vực thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh phân công Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thay thế và gửi quyết định phân công cho Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án.
– Trường hợp Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định phân công Phó Viện trưởng khác hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án.
– Trường hợp nhận thấy Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị nêu rõ lý do để Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của Cơ quan điều tra, nếu thấy có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định thay đổi Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; nếu thấy không có căn cứ thì trả lời Cơ quan điều tra bằng văn bản, nêu rõ lý do.
– Trường hợp Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải có văn bản thông báo gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền và Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền phải có văn bản thông báo gửi cho Cơ quan điều tra.
– Các văn bản về việc phân công, thay đổi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 8 Điều này phải được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền và đưa vào hồ sơ vụ án.
Các văn bản về việc phân công, thay đổi Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên quy định tại các khoản 5, 6, 7 và 8 Điều này phải được gửi cho Cơ quan điều tra và đưa vào hồ sơ vụ án.
Quy định mới về khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can từ 15/3/2025 (Ảnh minh hoạ)
Hướng dẫn thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can khi bị can phạm nhiều tội hoặc có nhiều hành vi phạm tội
Theo khoản 6 Điều 9 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:
(1) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó.
Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó.
– Ví dụ 1: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Từ tháng 01/2025 đến tháng 3/2025, Nguyễn Văn A đã thực hiện 05 hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại địa bàn phường H, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại phường H và ra 01 quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” đối với Nguyễn Văn A về 05 hành vi trộm cắp tài sản.
– Ví dụ 2: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản nêu tại Ví dụ 1 trên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại phường M, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án về hành vi trộm cắp tài sản xảy tại phường M để tiến hành điều tra;
(2) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
– Ví dụ: Ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội giết người, cướp tài sản tại phường H, tỉnh T thì bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Giết người” và “Cướp tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 123, Điều 168 của Bộ luật Hình sự;
(3) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
– Ví dụ: Để thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Văn A đã thực hiện hành vi phạm tội làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức để bị hại tin tưởng, chuyển tiền cho Nguyễn Văn A. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 341 của Bộ luật Hình sự;
(4) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
– Ví dụ: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tháng 02/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh T. Trường hợp này, Cơ quan điều tra tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 175 của Bộ luật Hình sự;
(5) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.
– Ví dụ: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Quân khu T phát hiện Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự (thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T). Trường hợp này, Cơ quan điều tra hình sự khu vực phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T tiến hành điều tra;
(6) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra, có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra mà nếu tách vụ án để điều tra theo thẩm quyền sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, thì Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền đánh giá, xác định tội phạm nào là tội phạm chính. Tội phạm chính thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra nào thì Cơ quan điều tra đó tiến hành điều tra toàn bộ vụ án.
Trên đây là thông tin về việc Quy định mới về khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can từ 15/3/2025…







